Tuesday, April 30, 2024

Đừng suốt ngày hỏi con bạn đang cảm thấy thế nào


Việc thường xuyên “hỏi thăm” về tâm lý có thể tạo ra tư duy có hại cho người trẻ, những người cần học cách kiểm soát và đôi khi là lờ luôn những cảm xúc thay đổi liên tục của mình.

Ảnh: Sam Falconer / theiSpot
Ảnh: Sam Falconer / theiSpot

Việc thường xuyên “hỏi thăm” về tâm lý có thể tạo ra tư duy có hại cho người trẻ, những người cần học cách kiểm soát và đôi khi là lờ luôn những cảm xúc thay đổi liên tục của mình.

Đi chơi với các gia đình có trẻ con một lần, bạn có thể thường xuyên nghe cha mẹ hỏi xem con ăn kem có vui không, có thích tới trường ngày hôm sau không hay có thấy thoải mái khi ở công viên. Rất nhiều câu hỏi của cha mẹ với trẻ giờ là chúng cảm giác thế nào. Tín hiệu với đứa trẻ là: niềm vui của con là tối thượng, đó là điều chúng ta theo đuổi khi sống.

Theo tác giả Abigail Shrier, người mới ra cuốn sách Bad Therapy: Why the Kids Aren’t Growing Up (Trị liệu có hại: Vì sao lũ trẻ mãi không lớn), chúng ta đang làm ngược. Các nhà nghiên cứu về tâm lý học khuyên, nếu muốn bọn trẻ vui, hạnh phúc thì tốt nhất không nên truyền thông điệp cho trẻ con rằng vui vẻ, hạnh phúc là điều tối thượng. Vì nếu càng quyết liệt tìm kiếm hạnh phúc, chúng ta càng dễ thất vọng, bất chấp điều kiện của chúng ta thế nào.

Cảm xúc không đáng tin

“Chúng ta biết rằng càng theo đuổi tâm lý tích cực cho bản thân thì điều này càng đi kèm với năng lực tâm lý kém – điều có thể dẫn tới các triệu chứng trầm cảm – Yulia Chentsova Dutton, lãnh đạo phòng nghiên cứu văn hóa và cảm xúc ở Đại học Georgetown, nói với Wall Street Journal – Cảm xúc phản ứng rất nhạy khi chúng ta chú ý tới chúng. Một số sự chú ý tới cảm xúc, tập trung vào cảm xúc, thực ra có thể gây thêm căng thẳng”.

Các nhà trị liệu, thầy cô và phụ huynh ở Mỹ dường như vẫn tin rằng việc hỏi thăm tình hình tâm lý của trẻ thường xuyên là vô hại và hữu ích giống như việc kẹp nhiệt kế cho con. Nhưng Dutton, người nghiên cứu về kiểm soát cảm xúc của người trẻ ở Mỹ, Đông Á, Tây Phi và Nga, cảnh báo rằng việc khuyến khích trẻ, đặc biệt là các trẻ có vấn đề, chú ý quá nhiều tới cảm xúc của mình sẽ phản tác dụng.

Nghiên cứu của cô cho thấy cảm xúc rất dễ bị tác động và thao túng. Điều này dẫn tới cảm xúc của chúng ta không đáng tin khi cần đánh giá điều gì đúng hay sai. Cách chúng ta hỏi thăm trẻ thường xuyên dẫn tới một thông điệp ngược.

“Về cơ bản chúng ta nói với trẻ là các tín hiệu cảm xúc rất không chính xác kia là đáng tin và đáng được theo dõi… và dùng nó để dẫn dắt hành vi của mình, dùng nó để phản ứng trong các tình huống”, Dutton nói.

Dạy con tập trung nhiều quá vào việc trẻ phải hạnh phúc

Nguyên nhân gốc rễ của việc này theo bà Shrier là việc bỏ cách dạy con truyền thống (nhiều phần áp chế) và theo thiên hướng của thế hệ X là cổ xúy các liệu pháp thần kinh.

“Việc dạy con thành công giờ chỉ tập trung vào hệ số duy nhất: trẻ con lúc nào cũng phải hạnh phúc – bà viết – Tuổi thơ lý tưởng nên là không đau đớn, không có gì khó chịu, không đánh nhau, không thất bại – và tuyệt đối không dấu vết gì của sang chấn”. Và khi dạy con có vấn đề thì rất nhiều cha mẹ vội lao vào các liệu pháp chữa trị thần kinh từ kiểm tra, chẩn đoán cho tới chữa trị.

Theo tạp chí Slate, việc đề cao quá các khó chịu của trẻ vừa hạn chế khả năng giúp chúng tự độc lập với cuộc sống của mình, dám đón nhận các rủi ro có thể tạo ra đột phá không phải điều mới. Nhà tâm lý học lâm sàng Wendy Mogel hơn 20 năm trước cũng từng viết cuốn sách The Blessing of a Skinned Knee (May mắn khi xước da đùi) nói về việc nên để cho trẻ tự đối mặt với các thách thức.

“Hỏi người nào đó ‘bạn cảm thấy thế nào?’ thường dẫn tới những cảm xúc tiêu cực. Bạn không nên làm vậy” – Michael Linden, chuyên gia về rối loạn cảm xúc và giáo sư tâm lý tại đại học ở Bệnh viện Charité của Berlin, nói. Vì sao? “Không ai cảm giác tốt hết cả – ông giải thích – Không bao giờ. Ngồi xe buýt và cứ nhìn người nào đối diện coi. Họ không vui. Hạnh phúc không phải là cảm xúc mỗi ngày”.

Theo ông Linden, khi nhìn lại đời sống mỗi ngày, có thể thấy cảm giác hạnh phúc là khá hiếm. Chúng ta phần lớn trong ngày chỉ “OK”, cố gắng phớt lờ các cảm giác hơi mệt, xác xơ, tức giận, stress, khó chịu hay đau, để cố gắng làm việc và làm các trách nhiệm của mình. 

Một ví dụ, khi ông Linden chen ngang câu phỏng vấn của bà Abigail Shrier và hỏi bà cảm thấy thế nào, bà muốn nói là “tốt” nhưng ông ngay lập tức nhảy vào: “Không, bạn không thấy vui lúc này. Bạn đang tập trung vào bài phỏng vấn”.

“Ông ta đúng. Lúc đó là 5h sáng giờ California và tôi không phải người dậy sớm. Tôi đặc biệt biết có 3 đứa trẻ ngủ tầng trên và bất cứ lúc nào cũng có thể dậy và chen ngang buổi phỏng vấn. Tôi chưa uống ly cà phê sáng và tôi không thích khuôn mặt mệt mỏi của mình trên camera. Linden trông thoải mái trong chiếc áo len màu cừu trong khi tôi xanh xao và mệt mỏi, cố gắng tỏ ra là tập trung để nghe những gì ông ta nói bằng cái giọng rất nặng. Nên không “vui vẻ”. Và khi biết về cảm xúc của tôi thì lại càng làm dấy lên những cảm giác tiêu cực”, bà Abigail Shrier viết.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng người lớn càng muốn đề cao hạnh phúc thì họ lại càng không vui vẻ. Một nghiên cứu năm 2019 của Journal of Applied Development Psychology (tạp chí về tâm lý học phát triển ứng dụng) cho thấy các thanh niên đồng ý với lựa chọn “kể cả khi thấy vui vẻ, tôi vẫn muốn vui vẻ hơn” thì thường có các dấu hiệu của trầm cảm.

Thiên hướng hành động sẽ tốt hơn

Việc hỏi trẻ liên tục là chúng cảm thấy thế nào còn nhiều tác hại nữa. Đặc biệt là khả năng tinh thần để chống chọi với các khó khăn trong cuộc sống.

Các nhà tâm lý học quan sát rằng những người có “thiên hướng hành động” thường có khả năng tập trung vào nhiệm vụ mà không bị phân tâm bởi những suy nghĩ về cảm xúc hiện tại hay trạng thái của mình. 

Những người có “thiên hướng về trạng thái của bản thân” thì thường nghĩ nhiều về bản thân hơn: họ đã sẵn sàng chưa, cảm giác căng cổ hay cái email họ quên chưa trả lời. Không ngạc nhiên khi những người “hành động” thường dễ hoàn thành công việc của mình hơn.

“Những người quan tâm quá vào trạng thái của bản thân thường vướng rào cản để có thể thành công”, ông Linden nói. Không huấn luyện viên giỏi nào nói với cầu thủ của mình dựa vào cảm xúc để thi đấu tiếp sau giờ giữa hiệp.

Thực tế, các nghiên cứu chỉ ra những người luôn để ý coi mình cảm thấy thế nào không chỉ khó khăn trong hoàn thành công việc mà còn gặp khó trong kiểm soát bản thân như có tỉ lệ uống rượu cao hơn và không kiểm soát được ăn uống.

Nghiên cứu trên tạp chí Journal of Personality năm 2020 cho thấy những người có khả năng loại cảm xúc tức giận sang một bên thường dễ dàng tiếp tục chơi game trên máy tính sau khi bị chặn ngang bất chợt so với những người còn mải miết theo đuổi những suy nghĩ khó chịu trong đầu.

“Thay vì liên tục hỏi con mình về chuyện đang cảm thấy thế nào, người lớn nên nói với chúng rằng cảm xúc thường không hoàn hảo và không đáng tin thế nào. Điều này giúp chúng nhận ra các cảm xúc ghen tị, tức giận, mê đắm bất chợt hiếm khi phản ánh bức tranh đầy đủ về thế giới và đôi khi các cảm xúc đó cần được lờ đi”, bà Shrier viết.

Đời sống cảm xúc lành mạnh cần một sự kiềm chế cảm xúc nhất định. Đứa trẻ làm sao có thể học mỗi ngày nếu không biết vượt qua các cảm xúc buồn đau và tập trung vào bài học trước mắt? Làm thế nào có thể trở thành bạn tốt nếu luôn để cảm xúc lên trên hết? Làm thế nào trẻ con có thể thành công trong công việc? Sẽ không thể nếu để cảm xúc chi phối mình.

Theo bà Shrier, thay vì ám ảnh với câu chuyện trẻ có vui vẻ, hạnh phúc không khiến chúng đề cao quá mức cảm xúc của mình, chúng ta nên khuyến khích chúng đặt ra các mục tiêu và chấp nhận rủi ro một số việc. Thế giới bên ngoài là sự phân tâm phù hợp cho những biến động của tuổi mới lớn – nó có thể chính là giải pháp cho những biến động này.

Ý tưởng rằng trẻ con cần thêm các trị liệu tâm lý được nhiều người ủng hộ khi nước Mỹ dường như đang trải qua khủng hoảng về sức khỏe tâm lý của trẻ. Theo dữ liệu bà Shrier thu thập, hiện 1/6 trẻ từ 2-8 tuổi của nước này được chẩn đoán có rối loạn thần kinh, hành vi hoặc phát triển. Một chuyên gia bà phỏng vấn nói nếu người trẻ có cảm giác xấu về bệnh vậy thì họ rất dễ tìm tới các loại thuốc để giải tỏa.

Theo TTCT

THANK YOU SO MUCH

Nhảy cóc – Bước đi mạo hiểm nhưng cũng đầy kỳ vọng (Skip the line)


Trong cuốn sách Skip the line – Người thành công có lối đi riêng, tác giả đã đưa ra những phương pháp “nhảy cóc” để bạn có thể học nhanh hơn, sáng tạo hơn và bắt đầu những cuộc phiêu lưu cho cuộc đời mình.

Nhảy cóc không là mẹo hay lối tắt

Nó là đam mê dẫn dắt việc học hỏi, thời gian và nhiều nguồn lực khác.

Tất cả chúng ta đang phải xây dựng một nền kinh tế đang hấp hối, một xã hội chứa đầy nỗi sợ hãi và mỗi cá nhân cần phải học cách vượt qua vô vàn sự bất ổn. Giữa bộn bề cuộc sống, chúng ta không thể lúc nào cũng đi từng bước một theo các lối mòn. Chúng ta cần phải đứng lên và tự tìm những con đường phù hợp cho chính mình.

Rất nhiều người trong số chúng ta sẽ phải nhảy cóc.

Bạn cần phải thật khôn ngoan trong việc lựa chọn những kỹ thuật cơ bản để có thể nhảy cóc. Nếu bạn không biết bản thân đang hổng phần nào, thì làm sao bạn biết những gì bạn cần tìm hiểu? Tất cả chúng ta đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, nhưng sau cùng thì chúng ta có rất nhiều điểm yếu giống nhau và chúng thường liên quan đến việc giao tiếp và hiệu suất công việc.

Kỹ thuật 1% mỗi ngày

Dưới đây là một vài kỹ thuật trong quyển sách Người thành công có lối đi riêng (Skip the line) mà tác giả đã học được và tự đúc rút để giúp cải thiện các kỹ năng cơ bản thêm 1% mỗi ngày.

Kỹ thuật xin lời khuyên: học cách xin lời khuyên – đây vừa là hình thức tôn trọng và thừa nhận vị thế của người đối diện, vừa giúp bạn nhận ra được vấn đề của bản thân mình.

6 phút kết nối: xây dựng lại và tạo ra các kết nối với những người xung quanh, những người bạn cũ đã lâu chưa liên lạc.

Đảo ngược!: không chỉ lắng nghe mà hãy “đảo ngược” – tìm kiếm điều ngược lại với những gì bạn tin là đúng. Từ đó bạn sẽ trở nên toàn diện hơn và có thể hiểu biết về tư duy của hàng triệu người.

Kỹ thuật Google: Google sẽ luôn cho bạn biết những gì bạn cần – chúng ta cũng nên như thế. Học cách giúp đỡ người khác, lắng nghe và ghi nhận những người xung quanh.

Giảm thiểu sự chú ý: Giảm thiểu các thông tin gây sao nhãng để chú tâm rèn luyện, học tập hay làm việc hiệu quả hơn.

Kỹ thuật “Có, và…”: Để nhảy cóc, bạn cần giao tiếp với mọi người ở mọi địa vị khác nhau. Thông thường, để quan điểm của bạn chiếm ưu thế, bạn phải biết cách phê bình các quan điểm hiện có khác. Điều quan trọng là có thể sử dụng “Có, và…” để góp ý mang tính xây dựng. Lời phê bình của bạn nên mang tính đôi bên cùng có lợi.

Đối phó khi bị từ chối: Nếu các ý tưởng của bạn bị từ chối – không sao cả. Hãy tự lực thử nghiệm mỗi ngày. Thực hiện các thử nghiệm về những thứ bạn quan tâm, và từ thử nghiệm bạn sẽ học hỏi được nhiều điều.

“Skip the line – Người thành công có lối đi riêng” sẽ giúp bạn nhảy cóc

Skip the line – Nhảy cóc không phải là các mẹo có thể áp dụng trong mọi tình huống. Nó là một cách sống cho phép đam mê dẫn dắt việc học hỏi, thời gian và nhiều nguồn lực khác. Bằng cách luyện tập để giỏi hơn mỗi ngày, bạn sẽ có thể làm những việc gần với sở thích và đam mê của mình nhất.

Đây là cách tiếp cận những thay đổi và khủng hoảng bằng cách sử dụng các công cụ giúp tăng cường sự sáng tạo, kỹ năng thực hành, thuyết phục, lãnh đạo và hiệu suất làm việc. Tất cả những kỹ năng này khi kết hợp với nhau sẽ đưa bạn tới thành công vượt ngoài sức tưởng tượng, với tốc độ mà người khác sẽ nói là bất khả thi.

Theo DNPlus

——

THANK YOU SO MUCH

Saturday, April 20, 2024

VIẾT CHO SINH VIÊN IT

 


Nếu ai đó hỏi tôi rằng: Điều gì đã khiến một tên coder quèn như tôi cũng muốn viết gì đó cho sinh viên IT, thì câu trả lời là, tôi viết bài này cả cho bản thân tôi nữa.


Tôi đã từng code trên cái máy tính với chip lõi đôi, tốc độ xử lý chỉ bằng 1/3 cái điện thoại tôi đang dùng hiện nay. Các bạn đang sống trong thời kỳ bùng nổ thông tin, nơi mà chúng ta có rất nhiều thứ, có nguồn tài liệu từ internet vô hạn, có điện thoại thông minh, có những đám mây cloud trên bầu trời…

Nhưng dù ở thời đại nào, trong điều kiện hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta cũng có chung niềm đam mê lập trình như nhau…
Rồi ngày mai cuộc sống sẽ cuốn các bạn đi, code của các bạn sẽ không còn là những dòng code đầy đam mê như trước nữa, đến một lúc nào đó, code của bạn phải làm ra tiền. Tôi nói thật đấy, bạn sẽ phải trả tiền phòng, tiền điện nước, internet, code của bạn trước khi làm thỏa mãn đam mê, thì trước hết nó phải đáp ứng được tầng thấp nhất của tháp nhu cầu Maslow cái đã.
Có những lúc tôi ngụp lặn giữa những dòng code, báo cáo, deadline… Có lúc tôi lơ đễnh, những đam mê, ý tưởng và ước vọng của tôi ngày xưa đâu rồi? Nó vẫn còn, nhưng tôi không có thời gian để làm nó nữa. Thì cái ngày lên giảng đường, tối được về nghiên cứu và làm những gì mình thích như các bạn, nó thật là tuyệt vời, như một giấc mơ vậy.
Tôi biết các bạn đang mong ước một cuộc sống tốt đẹp sau khi ra trường, một công việc tốt với mức lương cao, được làm việc trong văn phòng đẹp, được đi du lịch nhiều nơi. Điều đó không có gì là sai cả, bạn có quyền xứng đáng được như thế. Và theo những gì tôi biết, điều mà bạn mong muốn như công việc tốt với mức lương vài nghìn đô là hoàn toàn có thể đạt được.

Nhưng bạn phải làm cái gì đó trước đã.

Ngay lúc này, bạn có thừa thời gian để làm những gì bạn thích, bạn không nhiều tiền nhưng cũng không phải nặng gánh mưu sinh. Tâm trí của các bạn được tự do cho những ước mơ lớn, nếu không muốn trở thành một lão già tiếc nuối như tôi, hãy làm gì đó.
Đừng hoang phí tuổi trẻ thêm nữa, đừng bỏ lỡ cơ hội, nếu đang yêu, hãy cứ yêu đi, hãy cứ dại khờ theo đuổi những gì bạn muốn. Bởi vì khi đã ra bên ngoài cuộc sống, vai đầy những lo toan, thì bạn sẽ chẳng còn thời giờ nào mà nghĩ đến ý tưởng hay muốn làm cái gì cả đâu.
Hãy dần dần biến những ý tưởng nho nhỏ thành hiện thực, có thể đó không phải là những dòng code tốt nhất thế giới, nhưng nó mang lại giá trị. Mark cũng đã từng dại khờ mà tạo nên Facebook như thế đấy.
Tôi thật sự cảm thấy buồn khi một bạn nào đó mà tôi chưa từng biết mặt gửi tin nhắn cho tôi rằng “anh ơi có lẽ em bỏ IT anh ạ”. Tôi biết có bạn đang cảm thấy như thế, và chính tôi cũng đã từng có lúc cảm thấy như thế.
Rồi sẽ có lúc, cuộc sống làm bạn cảm thấy chán nản, trên con đường của mỗi người đều sẽ có những khó khăn, đó là một điều tất yếu, nhưng đừng bao giờ quên đi niềm đam mê với code bạn nhé.

Cuộc sống này là thay đổi, cũng như SQL lại có NoSQL vậy. Những gì tôi viết trên blog này, có thể sau vài năm sẽ không còn đúng nữa. Vài năm nữa bạn lại như tôi, lại lầm lũi ngồi viết những tâm sự như thế này. Thế giới là thay đổi, và thay đổi ngày càng nhanh, các bạn là những chiến binh mới, hãy nhanh tay mà nắm bắt, công nghệ tương lai đang nằm trong tay các bạn.

Nguồn: Lập trình cuộc sống

——

THANK YOU SO MUCH

Wednesday, April 17, 2024

New collar – Lực lượng lao động mới, không bằng đại học có chới với ?


Đọc xong bài viết, tôi thấy đâu đó có hình ảnh của mình trong đó. Công nghệ thay đổi nhanh quá, không học liên tục sẽ không kịp, sẽ tụt hậu, firmware trên đầu bạn sẽ cũ, bị bỏ lại sau lưng, và trở thành cổ cồn xanh… 

Không phải dân lao động, cũng không phải dân tri thức, “new collar” nằm ở đâu?

1. New collar là gì?

New collar là những lao động sở hữu tay nghề cao, đạt được mức lương trên thang trung bình nhưng không đi theo con đường học vấn truyền thống như trường đại học mà lựa chọn các chương trình dạy nghề, học việc, tự học qua các khóa học trực tuyến… và đặc biệt phổ biến trong các ngành như chăm sóc sức khỏe, kỹ thuật, công nghệ hay phần mềm.

Các định nghĩa truyền thống từng chia rõ cổ cồn trắng là tầng lớp tri thức, có bằng cấp, làm công việc văn phòng và cổ cồn xanh là lao động tay chân, không qua đào tạo bằng cấp. Còn cổ cồn mới (new collar) đúng như tên gọi là lực lượng nhân lực mới đang nổi lên có những đặc điểm giao thoa của cả cổ cồn trắng và cổ cồn xanh .

2. Nguồn gốc của new collar

New collar là một ý tưởng do Ginni Rometty, Cựu Giám đốc điều hành của IBM, đề xuất trong lá thư gửi cho vị Tổng thống mới đắc cử cuối năm 2016. Để giúp nền kinh tế Mỹ phát triển, Ginni kêu gọi tổng thống tích cực phát triển cơ hội việc làm cho nhóm lao động new collar.Ginni Rometty – Người đề xuất ý tưởng về lực lượng lao động mới ‘new collar’ | Nguồn: Business Insider

Làm việc tại một tập đoàn công nghệ hàng đầu như IBM, Ginni nhận thấy có một khoảng cách tồn tại giữa những gì được dạy ở trường đại học với những gì doanh nghiệp ngoài kia thực sự cần ở nhân viên… Đó là lý do bà nảy ra suy nghĩ về một thế hệ nhân lực mới, không phải cổ cồn trắng hay xanh mà là cổ cồn mới.

Từ đó, đội ngũ nhân sự của IBM bắt đầu nhìn nhận lại các bản mô tả công việc (job description), nghiên cứu các vị trí còn trống, xác định những kỹ năng thực sự cần thiết và viết lại bản mô tả công việc mới. Họ nhấn mạnh tới kinh nghiệm liên quan và năng lực cụ thể nhiều hơn là đòi hỏi một tấm bằng chung chung, qua đó mở ra nhiều cơ hội phát triển cho lực lượng new collar.

3. Vì sao new collar phổ biến?

Sự xuất hiện của lực lượng lao động new collar là kết quả của những biến chuyển mạnh mẽ đang định hình lại bối cảnh việc làm và giáo dục.

Trước hết là những đột phá của AI thời gian qua, không chỉ tự động hóa các công việc thường ngày mà còn tạo ra các ngách lĩnh vực mới yêu cầu về kiến thức và kỹ năng chuyên môn liên tục được cập nhật, đòi hỏi nhân lực có khả năng học hỏi và thích ứng cao.

Do đó, các mô hình giáo dục đang nỗ lực chuyển hướng sang mô hình tập trung vào kỹ năng, giúp người học thu nạp kiến thức và ứng dụng vào công việc thực tế nhanh hơn, mở ra con đường phát triển cho cả những người trẻ và những người lớn tuổi muốn chuyển sang ngành nghề giàu tiềm năng hơn.Nguồn: Pexels

Từ góc độ của thị trường lao động, theo báo cáo của Accenture, hiện tượng “lạm phát” bằng cấp – đòi hỏi bằng đại học cả với những công việc trước đây không hề yêu cầu đã khiến cho thị trường lao động Mỹ trở nên kém hiệu quả.

Giám đốc điều hành Tesla Elon Musk và Giám đốc điều hành Apple Tim Cook cũng đặt nghi vấn về sự cần thiết của tấm bằng đại học, họ thừa nhận rằng yêu cầu về bằng cấp khiến họ gặp bất lợi trong cạnh tranh tuyển dụng và bỏ lỡ nhân tài.

Một số công ty thậm chí đã tự mở ra các chương trình đào tạo nghề cho riêng công ty mình, hoặc hợp tác với các trường học để trang bị cho sinh viên những kỹ năng chính xác mà họ cần ở một nhân viên new collar, ngay sau khi hoàn thành quá trình học người lao động có thể vào làm việc ngay.

Theo Business Insider, vào năm 2021, quá nửa vị trí tuyển dụng ở IBM đã loại bỏ yêu cầu bằng cử nhân. Song song với đó, công ty mở ra The IBM Apprenticeship Program với hơn 25 vị trí ngành nghề, và đã có hàng nghìn học viên tốt nghiệp được tuyển dụng.

Oscar Anaya là một ví dụ điển hình, anh sớm nhận ra sự hứng thú với máy tính từ nhỏ và hack thành công máy tính của chị gái năm 12 tuổi. Anh nộp đơn xin việc ở rất nhiều công ty công nghệ nhưng đều bị từ chối vì không có bằng đại học.

Oscar rơi vào cảm giác vô vọng, từng đi làm nhà sản xuất âm nhạc cho đến khi phát hiện ra chương trình an ninh mạng của IBM ở Texas, anh được nhận vào chương trình này năm 2019 và hiện đang có một vị trí chính thức toàn thời gian tại IBM.

Có thể thấy, sự phát triển của lực lượng new collar đã phản ánh một làn sóng mới đang lan rộng, giờ đây các khía cạnh thực tế của kỹ năng, kinh nghiệm làm việc đang được coi trọng không hề kém cạnh, thậm chí là hơn cả hình thức bằng cấp.

4. Dùng new collar như thế nào?

Tiếng Anh

A: I am not sure if I want to go to university and get a degree. A four-year degree has been losing its luster.

B: You could shift toward shorter-term programs. There is a new era in hiring for new collar workers.

Tiếng Việt

A: Tui không chắc mình có muốn học đại học để cố lấy một tấm bằng không nữa. Bằng cấp giờ chẳng còn có giá mấy.

B: Bà có thể chuyển hướng sang mấy chương trình ngắn hạn. Thời của cổ cồn mới đang tới mà.

Phương Thảo – Vecetera 

—-

THANK YOU SO MUCH